...

PV: Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này được không?

L.L: Để tôi kể cho cô nghe câu chuyện này nhé. Đây là một minh chứng điển hình cho vấn đề tôi vừa đề cập. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính trong bức tranh Dừng lại của tôi.

PV: Bức tranh có người phụ nữ dang tay chặn xe tăng địch, phải không thưa ông?

L.L: Đúng đấy. Đây là một nhân vật có thật ngoài đời, và bức tranh ấy bắt nguồn từ một trận càn. Đó là vào tháng 4 năm 1966, khi tôi ở Long An, chỉ cách căn cứ Hậu Nghĩa của địch hơn 1 km. Hậu Nghĩa là một căn cứ rất lớn của Mỹ, nằm chặn cửa ngõ biên giới Việt Nam - Campuchia. Từ đây vào Sài Gòn chỉ khoảng 60 km, nên bọn Mỹ rất sợ quân ta đánh úp từ đất Campuchia. Căn cứ này chứa được hàng trăm xe bọc thép và rất nhiều máy bay.

Một hôm, vào buổi sáng tháng Tư, chúng tôi đang ngồi trong nhà chị Tư Cào — nhân vật chính trong bức tranh — khi ấy chị khoảng 43 tuổi. Bỗng nghe tiếng động cơ vang trời, ầm ầm, ì ì, ào ào, rào rào. Chúng tôi bật dậy nghe ngóng. Thì ra bọn Mỹ đi càn. Tôi chưa bao giờ thấy một trận càn lớn như vậy. Trên bầu trời có khoảng 30 chiếc máy bay trực thăng HU-1A. Dưới mặt đất, khoảng 50 xe bọc thép lừ lừ di chuyển. Nhìn từ xa, trông chúng như đàn đỗ đen. Những chiếc xe càng lúc càng lồm ngồm bò tới, càng to lớn, đè lên lúa má, mía, đậu phộng, thuốc lá... Những xích sắt đen ngòm, những bánh xe xịt khói, nghiền nát tất cả. Đất bị xới tung trong tiếng la hét của bọn lính. Chính chị lúc ấy cũng không hiểu sao mình lại đứng bật dậy, chạy ra bờ ruộng, khoát tay, khoát tay, miệng hét thật to: "Dừng lại! Dừng lại!"

Bỗng một chiếc xe tiến đến gần chị rồi dừng lại. Một người Mỹ cao to, đeo kính nói gì đó rồi chỉ tay vào chị, lúc này vẫn đang la thét. Một người lính Việt Nam đi theo bọn chúng quay sang hỏi: "Bà kia, làm gì mà la hét to thế? Ông sĩ quan hỏi bà đấy!"

Chị im lặng một lát, thở dốc, rồi chỉ vào miệng há to, một tay chỉ xuống cánh đồng lúa má, hoa màu, nói thật to:

"Những thứ này để ăn, ăn, ăn! Các ông đừng cho xe đè lên, chà lên, nát hết! Dân lấy gì mà ăn? Sẽ chết đói! Các ông cho xe ra lộ đá mà đi!"

Người phiên dịch lập tức nói lại cho viên sĩ quan Mỹ. Chị thấy hắn chăm chú lắng nghe, rồi gật gật đầu, cầm máy nói gì đó như ra lệnh. Một lát sau, cả đoàn xe im lặng, rồi lần lượt lùi lại, quay đầu, leo lên lộ đá mà đi.

Lúc ấy, chúng tôi mới xúm vào hỏi chị: "Sao chị gan thế? Chị có sợ không?"

Chị cười, nói đại ý: "Lúc thấy xe cán nát hết ruộng, một phần thì xót của, nghĩ sắp chết đói đến nơi rồi, một phần thấy tụi Mỹ ngang ngược quá, nên tôi chẳng sợ gì cả. Chết thì cùng chết! Không chết vì bị Mỹ bắn thì cũng chết vì đói thôi!"

Chúng tôi mừng quá! Anh em du kích hò reo ăn mừng, bà con ai cũng sung sướng vì hoa màu vẫn còn.

Bản thân tôi sống với dân, lại ở gần vùng giáp ranh căn cứ địch nên cũng đã chứng kiến rất nhiều cảnh( vào những ngày đình chiến), những sĩ quan Mỹ còn đi câu cá, mượn cả cần câu lẫn xe đạp của dân. Có cậu lính Mỹ vào nhà dân, nhìn thấy dân ở dưới hầm liền hỏi tại sao ở hầm mà không ở trên nhà. Khi dân trả lời rằng  sợ máy bay bỏ bom chết, cậu ta tỏ thái độ thương cảm. Điều này càng làm tôi thấm thía câu nói của Bác Hồ: "Chúng ta đánh đế quốc Mỹ, không đánh anh em, nhân dân Mỹ..."

PV: Bức tranh Dừng lại đang treo ở nhà ông đề năm sáng tác từ 1966 - 2000, vẽ lần thứ 6. Hình như bức Dừng lại này có rất nhiều phiên bản khác nhau, phải không thưa họa sĩ?

L.L: Rất đúng! Riêng bức này, tôi có tới 6 phiên bản khác nhau. Bức treo ở nhà là bản cuối cùng, vẽ năm 2000, cũng là bản chính. Những bức đầu tiên tôi làm ngay sau trận càn ấy bằng tranh khắc gỗ, khổ nhỏ, số lượng in rất nhiều, được sử dụng làm tranh binh vận và rải khắp vùng địch chiếm. Người in khắc giúp tôi thực hiện những bức tranh binh vận ấy chính là Huỳnh Măng, một anh thanh niên rất giỏi nghề.

Còn khuôn khổ to nhất của phiên bản có kích thước : 310 cm x 400 cm, được vẽ trong hai đêm, một ngày, bằng sơn dầu Sài Gòn (một loại sơn dân dụng rất mau khô) trên một tấm tôn lớn. Bức tranh này được treo ở một bến tàu rất lớn (tôi không nhớ rõ tên) ở Mỏ Cày, Bến Tre... nằm giữa ngã ba nối sông Tiền Tiền và sông Hậu. Bức này được vẽ vào dip lễ Phật Đản năm 1967 theo gợi ý của các đồng chí lãnh đạo tính ủy Bến Tre vói tính chất là một tác phẩm đấu tranh trực diện. Khi bức tranh được dựng lên sừng sững giữa

bến tàu, tất cả các tàu bè qua lại trên sông đều di chầm chậm lại. Chỗ ngã ba sông gần bức tranh chen kín tàu đậu xem. Mọi người hồ hởi bảo nhau: "Mỹ nhìn thấy tranh này là chạy hết". Dự kiến bức tranh sẽ được treo trong 2 ngày đình chiến từ 14-15/7/1967 nhưng nó đã ở đấy một thời gian khá dài thì bọn địch mới đến, mới đầu chúng ra lệnh bắn vào cái dây thép treo tranh để tranh

rơi xuống nhưng không được. Chúng liền hò nhau cắt dây, khiêng xuống tàu, cột dây chặt vào boong tàu, sau đó đem đi mất. Sau này có thông tin nói lại... bọn địch mang về căn cứ và triệu tập bọn tâm lý chiến đến xem.

Sau sự kiện bức tranh đó, tôi vẫn tiếp tục công việc trên giao. Năm 1970 tôi được chọn vào Ban lãnh đạo của phòng Hội họa giải phóng miền Nam gồm: tôi, Thái Hà (Nguyễn Như Huân), Huỳnh Phương Đông. Trang Phượng (Trưởng phòng). Năm 1974, tôi ra Bắc theo sự phân công của đồng chí Tố Hữu...

Khi họa sĩ Lê Lam nói tới đây, vợ của ông vừa vào ngồi nghe hai bác cháu chuyện trò một lát nói xen vào:

" ...Ông ấy từ miền Nam trở ra và trông như chết đói, chỉ có đôi mắt là rực lửa đấu tranh mà thôi." thế là cả vợ chồng họa sĩ Lê Lam và tôi cùng cười sảng khoái bởi cái kết chuyện không thể thú vị hơn.


...

PV: Can you elaborate on this issue

L.L: Let me tell you a story that perfectly illustrates what I just mentioned. It revolves around the main character of my painting Dừng lại (Stop!).

PV: Is that the painting of a woman spreading her arms to stop an enemy tank?

L.L: Yes. She was a real person, and the painting was inspired by a military raid in April 1966 when I was in Long An, near the Hậu Nghĩa military base. This was a major U.S. base, strategically located to prevent attacks from Cambodia.

That morning, while we were in the house of Tư Cào—the woman in the painting—we suddenly heard the roar of engines. The Americans were launching a massive raid. Around 30 HU-1A helicopters filled the sky, while 50 armored vehicles moved like a swarm of black beetles, crushing crops under their tracks. Suddenly, Tư Cào stood up, ran to the edge of the field, waved her arms, and shouted: "Stop! Stop!"

One tank halted. A tall American officer, wearing glasses, asked in English why she was yelling. A Vietnamese soldier translated, and she replied passionately: "These crops are for eating! If your tanks crush them, what will people eat? We will starve! Take your tanks to the stone road!"

The translator conveyed her words, and after a moment, the officer nodded and issued an order. One by one, the tanks reversed and moved onto the road.

When we asked her if she was afraid, she laughed and said, "When I saw them destroying the fields, I wasn’t thinking about fear—just that we’d starve if they continued. If I had to die, I’d rather die fighting!"

The local militia cheered, and the villagers were overjoyed.

Living among the people, I also witnessed surprising moments during temporary ceasefires. Some American officers would go fishing, borrowing fishing rods and bicycles from the locals. Some soldiers, upon seeing villagers hiding in bomb shelters, asked why they didn’t stay in their homes. When the villagers said they feared air raids, the soldiers showed sympathy. This reminded me of Hồ Chí Minh’s words: "We fight American imperialists, not the American people."

PV: Your painting Dừng lại was created between 1966 and 2000, with six different versions. Is that true?

L.L: Exactly! The version in my home, completed in 2000, is the final and definitive one. The earliest versions were woodcut prints made right after the raid, used as propaganda and distributed in enemy-occupied areas.

The largest version, measuring 310 x 400 cm, was painted on a large metal sheet in just over two days using quick-drying Saigon oil paint. It was displayed at a major dock in Mỏ Cày, Bến Tre, at the confluence of two rivers. Placed there for Buddha’s Birthday in 1967, it became a symbol of resistance. Boats slowed to see it, and people said, "If the Americans see this, they’ll run away!"

Although meant to be displayed for only two days, it remained for a long time before enemy forces arrived. First, they tried shooting the steel cables holding it up, but the painting didn’t fall. Eventually, they cut the cables, carried it onto a ship, and took it away. Later, I heard they brought it to their base for psychological warfare analysis.

After that, I continued my work. By 1970, I was selected to join the Southern Liberation Art Committee. In 1974, I was assigned to move to the North under the orders of Tố Hữu.

(Lê Lam’s Wife, Interjecting): "When he returned from the South, he looked like a starving man—only his eyes burned with the fire of resistance!"

At that, the three of us laughed heartily at the unexpected ending.



☆bài viết: Theo Tạp chí Mỹ Thuật Số 267-268 nhân dịp kỷ niệm 40 năm GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM ( 30/4/1975-30/4/2015)


☆Article: According to Fine Arts Magazine No. 267-268, on the occasion of the 40th anniversary of the Liberation of South Vietnam (April 30, 1975 – April 30, 2015).